« January 2012 »
Mo Tu We Th Fr Sa Su
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          

TRỞ LẠI BA DỪA

VĂN Trackbacks (0) góp ý (2)   
CHỢ BA DỪA

Dễ chừng trên 10 năm tôi mới trở lại Ba Dừa (xã Long Trung - Cai Lậy). Đây là vùng đất mà mỗi khi nhắc tới tôi liên tưởng đến  vườn cây ăn trái bạt ngàn xen lẫn những cánh đồng lúa xanh mượt.  Và ở đây còn lưu truyền một nhân vật có tiếng tàn ác - Ba Săn (còn gọi là cảnh sát Săn). Lớp trẻ xứ này không biết nhiều nhưng trong ký ức những người lớn tuổi không quên  những hành vi man rợ của ông ta với đồng loại. Những chuyện dĩ vãng ấy bây giờ không ai muốn nhắc lại làm gì.

Đi trên tỉnh lộ 868 được tráng nhựa phẳng phiu giữa cái nắng chang chang của tháng ba bổng dưng tôi nhớ đến con lộ này ngày xưa. Thuật ngữ "Lộ Ba Dừa" một thời được người ta gán cho những con lộ long chong sỏi đá với mặt đường đầy ổ gà. Mấy năm mới giải phóng đi xe khách trên tuyến lộ từ  Cai Lậy ra ngã ba Ba Dừa mất gần cả tiếng đồng hồ, chưa kể người cứ ngã nghiêng liên tục. Những cục đá xanh bằng bắp chân mỗi ngày cứ lộ ra giữa mặt đường, trong khi hai bên xuất hiện các lối mòn nhỏ do lưu lượng xe đạp lưu thông nhiều. Có người nói vui "lưu thông trên lộ này mấy thuở xảy ra tai nạn giao thông". Bị kêu ca, con lộ được trải đá đỏ. Mưa ít, không sao. Mưa nhiều, lầy lội. Vào mùa nắng thì bụi không thể tưởng tượng nổi. Chuyện con lộ Ba Dừa có biết bao điều để nói và bây giờ người ta chỉ nhắc tới như kỷ niệm của một thời khó khăn đã qua. Tuyến đường trãi nhựa cách đây trên 5 năm, giờ xe cộ ngược xuôi nhộn nhịp.

Tại ngã ba Ba Dừa, nhà cửa mọc lên san sát, xây cất khang trang hơn mang dáng dấp của một thị tứ  với đầy đủ các cửa hàng, đại lý vật liệu xây dựng, xăng dầu, thuốc trừ sâu, điện thoại di động đến quán ăn bình dân, điểm dạy tin học... Con đường vào chợ Ba Dừa hơn 1 km đã trải nhựa nhưng đang xuống cấp  do  thường xuyên phải chịu đựng những chuyến xe chở vật liệu xây dựng các công trình trọng điểm bên trong. Khác biệt lớn nhất là khu vực chợ Ba Dừa. Thầy Nguyễn Văn Hoàng - giáo viên trường THCS Long Trung - kể lại: "Hồi trước giải phóng, ngay vị trí ngôi chợ hiện nay có một đồn nhỏ - nơi ở và làm việc của Ba Săn. Còn vị trí trường Mẫu giáo chính là nơi đóng quân của lính Mỹ, phía dưới chỗ Trạm y tế là sân bay dã chiến. Quanh khu vực này dây kẽm gai chằng chịt, mìn, lựu đạn gài khắp nơi vì sợ quân ta tấn công. Khi đó, dù còn nhỏ, nhưng tôi vẫn nhớ những hành động tàn bạo của cảnh sát Săn mỗi khi bắt được cán bộ của ta. Chúng chặt đầu, mổ bụng rồi đóng bè thả trôi xông nhằm uy hiếp tinh thần của nhân dân. Dân chúng ai cũng tức anh ách. Chuyện gì đến cũng đến. Cuối năm 1971, nhân dịp cúng đình Long Trung, có tổ chức hát bội,  Ba Săn bị ám sát may mắn chỉ bị thương. Kể từ đó, Ba Săn bớt hung hăng hơn trước". Khu vực đồn này kết hợp với đồn Trà Tân, đồn Cây Khế và một đồn nhỏ tại ngã ba Long Tiên tạo thành thế liên hoàn gây áp lực cho căn cứ  Tỉnh ủy ở Long Tiên. Sau ngày thống nhất đất nước, dân tản cư trở về quê dựng lại nhà cửa, bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Mãi hơn 10 năm trở lại đây, Long Trung mới thật sự chuyển mình.

Thay đổi lớn nhất đó là người dân mạnh dạn chuyển từ trồng lúa sang lên liếp trồng sầu riêng. Chuyện bây giờ nói ra tưởng như đơn giản nhưng ngày đó nhiều người dân phải chịu "bầm dập" vì dám "làm trái với chủ trương". Theo lời thầy Hoàng, người bị "mời lên mời xuống" nhiều nhất là ông Ba Quang ở ấp 6. Có lúc ông cũng muốn nản chí với gần 1 ha sầu riêng mới trồng. Nhưng đất không phụ lòng người. Mấy năm sau đó, sầu riêng của ông vừa sai trái lại trúng giá, thu nhập gần cả trăm triệu đồng. Cây sầu riêng đã giúp ông Ba Quang tạo dựng  cửa rộng nhà cao, tên tuổi  nổi tiếng khắp vùng. Sau thành công của ông Ba Quang, nhiều hộ nông dân ở Long Trung làm theo mang lại hiệu quả cao, thu nhập tăng lên đáng kể. Hai bên tỉnh lộ 868 những vườn sầu riêng xòe cành, xanh tán thay dần ruộng lúa giúp cho bà con nơi đây đổi đời nhanh chóng cho dù cũng có năm "được mùa rớt giá". Các giống như sầu riêng bí, khổ qua xanh giờ  thay bằng Ri 6, Monthoong, 9 Hóa... với chất lượng cao, giá cả ổn định nên được bà con tin dùng. Vào mùa vụ, hàng trăm xe gắn máy, xe tải hối hả chở sầu riêng bủa đi tiêu thụ khắp mọi nơi, đâu đâu cũng thấy không khí buôn bán nhộn nhịp. Với thu nhập từ sầu riêng mỗi năm vài trăm triệu đồng làm cho giá đất tăng lên vùng vụt. Định hướng phát triển của ngành nông nghiệp huyện Cai Lậy đã xác định rõ cây sầu riêng là cây kinh tế chủ lực của Long Trung, giúp cho nhà vườn  thêm hy vọng.

Tạt vào quán nước đối diện với Trạm Y tế xã, anh chủ quán tên Tấn khá vui vẻ ngồi tiếp chuyện với khách. Anh là thành viên Hội Sinh vật cảnh xã Long Trung nên rất hào hứng khi nói chuyện trồng cây kiểng ở Long Trung. Thì ra những năm gần đây, ngoài việc trồng sầu riêng làm giàu, một số người dân trong xã cũng thoát nghèo nhờ trồng và ươm cây kiểng. Năm 2002, Hội Sinh vật cảnh xã Long Trung được thành lập với 14 chi hội và gần 100 hội viên. Đến nay, Hội đã giúp đỡ về kỹ thuật cho hội viên trồng các loại bonsai, cây kiểng, từ đó diện tích đất trồng kiểng ngày càng tăng, nhà nào cũng trồng ít nhất 10 gốc kiểng với đủ loại: mai vàng, mai chiếu thủy, nguyệt quế, cần thăng... Nhiều nông dân đến học hỏi kinh nghiệm, không chỉ trong ấp mà còn  người ở xã khác cũng đến nhờ hướng dẫn kỹ thuật và tập sự. Theo lời giới thiệu của anh Tấn, tôi đến vườn kiểng của bác Tư Nhuệ cách Ủy ban nhân dân xã Long Trung hơn 500m. Quan sát vườn kiểng nhà bác, tôi nhận thấy có cả cây ăn trái thông thường như bình bát, khế, ổi, vú sữa... qua đôi tay khéo léo của nghệ nhân cũng biến thành những cây kiểng có hình thác nước, hang động, cổ thụ hay được uốn với đường nét khá độc đáo theo các thế: xung phong, mẫu tử, hoặc tam tòng - tứ đức. Theo thị hiếu của thị trường, hiện nay, hơn 1000m2 vườn kiểng của gia đình bác Tư Nhuệ đang ươm giống tùng Đài Loan và vạn niên tùng để bán cho người dân trong và ngoài huyện. Bác Tư bộc bạch: " Năm nay tôi đã 87 tuổi rồi nhưng vẫn còn đam mê trồng kiểng lắm. Do thu nhập từ kiểng khá cao nên cả xóm này ai cũng trồng hết". Không riêng gì gia đình bác Tư, rải rác các ấp trong xã đều có những nghệ nhân mua kiểng về uốn nắn, cắt tỉa để trở thành các tác phẩm mang chủ đề, nổi bật có  các anh : Năm Thoại, Bảy Mỹ, Tư Thịnh, Ba Luyến... Nghề chơi kiểng quả thật là một nghề chơi công phu, tốn kém. Nhưng bù vào đó là những lợi ích xem ra có vẽ vô hình nhưng lại cực kỳ lớn lao về tinh thần lẫn vật chất. Anh Nguyễn Thanh Hải - cán bộ Đài truyền thanh xã - phấn khởi nói: "Trước kia có nhiều hộ rất khó khăn, làm lụng vất vả quanh năm mà không đủ sống. Được sự giúp đỡ của Hội Sinh vật cảnh, các gia đình này mạnh dạn chuyển sang nghề trồng và bán kiểng giờ đã khá lên. Như gia đình anh Út Vinh hồi đó sống bằng nghề làm thuê, làm mướn, luôn thiếu trước hụt sau. Với bản tính siêng năng, chịu khó học hỏi kỹ thuật. Giờ gia đình anh Vinh khá hơn trước mua sắm Tivi, xe Hon da. Hơn thế, vợ chồng anh còn lo cho con ăn học đàng hoàng. Ngoài ra còn có các anh Võ Văn Thịnh, Lê Văn Nét. Phạm Hồng Thái đã thoát nghèo, xây dựng nhà cửa khang trang thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm". Hoa kiểng từ ngàn đời nay được coi là thú tiêu khiển tao nhã, lại có ích lợi trong việc di dưỡng tinh thần, bồi bổ trí tuệ, đồng thời là phương thuốc vô cùng hiệu nghiệm trong việc làm dịu bớt những căng thẳng, những ức chế do nhiều hệ lụy từ cuộc sống xô bồ mang lại cho con người. Anh Tấn cho biết, có lần, trung tướng Nguyễn Việt Thành về Long Trung tìm mua kiểng. Thấy ở đây có nhiều người trồng kiểng, ông nói: " Tôi rất mừng khi bà con mình thích trồng cây  kiểng vì trồng kiểng chẳng những tăng thu nhập mà còn giúp con người lành tính". Hàng năm kiểng bonsai, kiểng cổ ở Long Trung đều được chọn trưng bày trong dịp Hội Xuân của huyện, tỉnh, tô điểm thêm vẻ đẹp của quê hương trong những ngày Xuân về, Tết đến.

Dạo một vòng quanh khu vực chợ Ba Dừa, khó ai có thể hình dung nơi đây trước kia từng là hệ thống đồn bót giặc. Chợ Ba Dừa mới vừa hoàn thành với qui mô lớn hơn chợ cũ, kết cấu nhà lồng rộng tiện cho việc buôn bán, đi lại của bà con. Chung quanh chợ, hệ thống đường sá đan xen ngang dọc, nhà cửa xây cất khang trang báo hiệu khu phố chợ đang trong giai đoạn hình thành. Dù chợ xã nhưng kẻ mua người bán tấp nập, đông vui. Hàng hóa, ngoài trái cây là chủ lực còn có các loại thực phẩm tươi sống, quần áo, văn hóa phẩm... không thua gì chợ huyện. Gần đó, trường mẫu giáo Long Trung thiết kế khá đẹp so với các trường lân cận. Gần trục giao thông, gần chợ thuận lợi cho phụ huynh đưa đón con em mình . Trạm Y tế xây dựng hiện đại đang hoàn thành những hạng mục cuối cùng ở sân trước, tương lai không xa biết đâu trở thành một bệnh viện khu vực Nam Cai Lậy. Phía bên kia, mấy anh công nhân đang đứng trên giàn giáo xây thêm những dãi phòng học mới cho các trường tiểu học, trung học của xã. Nhớ mấy năm đầu sau ngày miền Nam giải phóng, hầu hết các trường đều làm bằng tre lá. Số học sinh học đến trung học rất ít vì phần lớn phụ huynh đều muốn con em mình nghỉ học sớm để phụ giúp gia đình. Oan uổng cho nhiều học sinh khá giỏi phải dở dang chuyện học hành. Bây giờ họ đều trưởng thành nhớ lại chuyện cũ cảm thấy tiếc nuối nên bằng mọi giá cho con cái học đến nơi đến chốn. Theo lời của thầy Hoàng, hầu hết học sinh ở Long Trung được gia đình và nhà trường tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học tập. Ngay cả những điểm trường ở ấp cũng đều xây dựng kiên cố. Năm nào trường trung, tiểu học cũng có học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh. Nhiều cựu học sinh của trường đang là giảng viên trường đại học Tiền Giang hoặc công tác tại các cơ quan ban ngành trong tỉnh, cũng có người là doanh nhân thành đạt ở thành phố Hồ Chí Minh. Dù xa quê, những đứa con vùng đất Ba Dừa vẫn không quên nguồn cội. Họ chung tay hỗ trợ địa phương trong quá trình xây dựng nông thôn mới, đó là các tuyến đường bêtông liên ấp, cơ sở dạy tin học, những ngôi nhà tình nghĩa, tình thương...

Ba Dừa - vùng đất trước đây là nơi tranh chấp giữa ta và địch, chịu đau thương, mất mát trong chiến tranh - nay đã chuyển mình. Sự đổi thay không chỉ thể hiện qua các công trình mới đua nhau mọc lên, số hộ giàu gia tăng mà còn thể hiện trong nhận thức, suy nghĩ của từng người dân. Để xây một nông thôn mới, hiện đại còn phải nhiều nỗ lực hơn nữa.

TẠI SAO GỌI LÀ RÚT RUỘT?

TIỂU PHẨM VUI Trackbacks (0) góp ý (3)   
     

Trong chuyến lưu diễn ở châu Á, ảo thuật gia lừng danh David có ghé qua Việt Nam thực hiện một vài tiết mục độc đáo. An  tượng nhất là tiết mục làm biến mất một hàng cây trên đoạn đường trung tâm thành phố trước sự chứng kiến của hàng vạn người. Sau khi trả hàng cây trở về vị trí cũ, David nhận được nhiều hoa cùng tiếng vỗ tay vang dội.

Bổng có người đàn ông Việt Nam trạc ngoài 40 tuổi tiến đến micro trên sân khấu lên tiếng:

-Tôi xin thán phục màn trình diễn vừa rồi của ngài David. Nhưng ở Việt Nam, chuyện biến mất một hàng cây thậm chí cả rừng cây đã quá quen thuộc. Được sự cho phép của Ban Tổ Chức, tôi cũng có một tiết mục nhỏ để đáp lễ.

Khán giả hồi hộp chờ đợi. Trên sân khấu người ta dẫn một thanh niên bịt mắt ra đứng giữa. Người đàn ông khi nãy cầm một cái thau lớn giơ trước mặt mọi người chứng tỏ trong đó không có gì và đặt xuống sân khấu lấy vải đậy lại. Ông ta quay xuống khán giả nói lớn:

-Tôi sẽ lấy ruột của anh ta ra mà không cần mổ xẻ, thậm chí anh ta không hề hay biết.

Khán giả bên dưới ồ lên. Sau một lúc vuốt qua vuốt lại trên bụng chàng thanh niên, ông ta giật chiếc khăn trên thau và đưa cho mọi người xem. Khán giả sửng sốt khi bên trong thau toàn là ruột. Để chắc ăn, người đàn ông còn nhờ bác sĩ lấy máy siêu âm và xác nhận: bụng anh ta không còn ruột. Vậy mà nét mặt chàng trai vẫn tỉnh bơ. Rồi cũng vài động tác múa máy tay chân, ruột trong thau trở về bụng anh ta. Khán giả vỗ tay vang dội. David cầm hoa lên tặng người đàn ông luôn miệng nói: Việt Nam number one!

Đợi đoàn người tản đi bớt, một phóng viên đến gần nhà ảo thuật Việt Nam đặt câu hỏi:

-Xin ảo thuật gia cho biết tiết mục vừa rồi ông tập trong bao lâu?

Người đàn ông được dịp ba hoa:

-Vào nghề là tôi biết ngay. Chẳng giấu gì anh, tôi có thể rút được cả sắt, thép, ximăng của nhà cửa, cầu cống. Mà nè, đừng gọi tôi là ảo thuật gia, mắc cỡ lắm

-Vậy ông là ai?

-Đơn giản tôi là người chuyên trúng thầu các công trình xây dựng lớn!

Nói xong ông ta lên xe rồ ga chạy mất. Từ đó về sau, trong dân gian khi muốn nói đến những người ăn xén các công trình xây dựng, ăn chặn của công người ta thường dùng thuật ngữ "rút ruột".

MÀU SẮC MÙA XUÂN

VĂN Trackbacks (0) Thêm góp ý   


      Mùa Xuân Việt Nam đem đến cho chúng ta những cảm quan tươi mới về thiên nhiên, đất nước. Mùa Xuân gợi lên những ước mơ về tương lai, hạnh phúc. Và chúng ta, ai cũng muốn làm đẹp thêm cuộc sống của mình , làm đẹp thêm mùa Xuân Việt Nam vốn đã chan hòa ánh sáng và màu sắc.

Đời sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu giao tiếp, nhu cầu về cái đẹp ngày càng nhiều. Gia đình Việt Nam nào, dù ở miền Nam hay miền Bắc, dù ở miền xuôi hay miền núi cũng đều có một truyền thống mến khách. Trong kiến trúc nhà ở, dù sang trọng hay bình thường, rộng hay hẹp cũng dành một chỗ trang trọng để tiếp khách. Tốt nhất là có một phòng khách riêng. Thiên nhiên tạo ra muôn màu sắc và ban cho con người một niềm vui lớn là có khả năng cảm nhận được những màu sắc ấy. Nghệ thuật trang trí bao giờ cũng gắn liền với việc sử dụng màu sắc. Bước vào một căn nhà, một khu phố, một làng xóm... sự bài trí màu sắc hài hoà do óc thẩm mỹ và bàn tay khéo léo của con người, làm cho chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm và ưa thích. Trong một gian phòng chỉ nên sử dụng ba  hay bốn màu và đặt ở đúng chỗ. Nhiều màu quá gây sự lộn xộn, không đạt yêu cầu thẩm mỹ. Nhưng chỉ có một màu thì căn phòng trở nên đơn điệu, tẻ nhạt. Nếu ngôi nhà ở vùng mát, lạnh thì nên sử dụng những màu nóng như da cam nhạt, vàng rơm, vàng sang... để có cảm giác ấm cúng hơn. nếu ở vùng nóng thì nên sử dụng các màu lạnh như lam nhạt, lục nhạc, ve xanh... Phòng hẹp nếu quét tường màu lạnh sẽ có cảm giác rộng hơn. ngược lại, căn phòng rộng rãi, trống trải quá thì quét tường màu nóng để có cảm giác không gian hẹp lại và ấm cúng. Tổ chức không gian kiến trúc căn phòng, ngoài yếu tố màu sắc còn phải kết hợp với việc bày biện đồ đạc trong đó sao cho hài hòa, đẹp mắt.

Ở nước ta, cây lá và hoa quả bốn mùa cũng góp phần tạo ra màu sắc và vẻ đẹp của mùa Xuân. Màu hồng tươi thắm của hoa Đào, màu vàng của hoa Mai, hoa Cúc, màu trắng tinh khiết của hoa Layơn... và màu xanh non của các loại cây lá. Rồi khối tròn của trái bưởi, trái cam, dáng mềm mại của những cành khế, cành táo. Chậu quất đầy quả chín vàng ẩn hiện sau những chùm lá xanh... Tất cả tạo nên thế giới màu sắc trong căn nhà. Song đều quan trọng là phải biết sắp đặt một cách nghệ thuật, đừng nhiều thứ quá vừa tốn tiền vừa lấn át lẫn nhau không đẹp mắt.

Làm đẹp cho cuộc sống của mình, ngôi nhà của mình là một nghệ thuật. Với bàn tay khéo léo và óc thẩm mỹ, chắc chắn ta sẽ có một căn phòng đẹp, tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.

KHU DU LỊCH SINH THÁI GÁO GIỒNG

DI TÍCH - THẮNG CẢNH Trackbacks (0) góp ý (2)   
                                                

Khu du lịch sinh thái này nằm cách trung tâm huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, khoảng 17 km đường bộ và 30 phút đường sông. Nơi đây có 36 ha sân chim với 15 loài chim, cùng hàng trăm loài động thực vật và thuỷ sản. Thuộc ấp 6, xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng (hay mọi nguời thường quen gọi là vườn chim Gáo Giồng) từ lâu đã nổi tiếng là "ốc đảo xanh" với cảnh quan thiên nhiên quyến rũ, đặc trưng cho vùng đất trũng Đồng Tháp Mười.

Được xem là một Đồng Tháp Mười thu nhỏ, rừng tràm Gáo Giồng có diện tích khoảng 1.700 ha, trong đó có hơn 250ha rừng nguyên sinh, với những bưng trấp, lung, bàu đầy sen, súng, lau, sậy, cà na, gáo... - những nét đặc trưng của vùng đất trũng phèn Đồng Tháp Mười.chúng tôi len lỏi trong rừng tràm với những chùm rễ quấn quít trên đất sình. Mùi hương tràm thoang thoảng đâu đây. Gần đến sân chim, xuồng trôi chậm hơn bởi dòng kênh ken đặc bèo tai chuột, bèo hoa dâu. Trên một vạt rừng rộng hơn 20ha cạnh ban quản lý rừng là nơi hàng chục loài chim nước sinh sống và làm tổ quanh năm như: trích mồng đỏ, cồng cộc, le le, vịt trời, diệc, điên điển..., nhiều hơn hết vẫn là đàn cò trắng hàng chục nghìn con khiến rừng tràm này được xem là vườn cò lớn nhất hiện nay ở vùng Đồng Tháp Mười. Lúc bình minh hay hoàng hôn, rừng tràm Gáo Giồng vừa sống động vừa tĩnh mịch với tiếng chim gọi đàn và từng đàn cò trắng từ bốn phương trở về tổ. Mùa nước là thời gian hội tụ của chim cồng cộc, le le, vịt trời, trích, bìm bịp. Mùa khô có diệc mốc, diệc lửa, vạc, nhan điển, cò ngà, cò đỏ, cò trâu.  Trên các cánh đồng vừa thu hoạch còn trơ gốc, đàn cò trắng hàng nghìn con đang cặm cụi kiếm mồi trên nền tràm xanh tạo nên một cảnh đẹp ngoạn mục. Các lung sen-nơi quy tụ hàng nghìn con trích mồng đỏ về đây vui múa, nhộn nhịp suốt ngày. Trên bãi ăn của trích, hàng nghìn con dạn dĩ, mồng đỏ ối trên bộ lông xanh lam thư thả nhổ những cọng năn tươi non, thỉnh thoảng chúng cất tiếng gáy kèm theo những vũ điệu tuyệt đẹp. Tiếng gọi nhau của các loài chim nhao nhao náo động cả một vùng trời. Trên 40 km kênh phân lô chia rừng tràm ra nhiều ô nhỏ bàn cờ, là vựa cá nước ngọt lớn vào bậc nhất hiện nay ở vùng Đồng Tháp Mười, với sản lượng cá tự nhiên khai thác hằng năm hơn 30 tấn, nhiều nhất là cá lóc, cá rô, cá thát lát, cá sặc, cá chốt, cá lăng, cá bống ... đặc biệt là loài cá linh từ Biển Hồ Campuchia vào mỗi mùa nước lên lại lũ lượt kéo về từng đàn đông vui... Ngoài ra ở đây còn có các loài lươn, rắn, chuột, rùa... những đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười. Khu sinh thái  còn được điểm sắc bằng các loài hoa đồng nội: bông sen, bông súng, bằng lăng, điên điển... đã khắc họa cho Gáo Giồng thành một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ giữa Đồng Tháp Mười nguyên sơ. Ngắm nhìn toàn cảnh với thảm xanh rừng tràm trên độ cao 18m ghé mắt vào ống nhòm, rừng tràm bát ngát thu vào tầm mắt, thấy rõ từng đàn tung cánh trắng toát chao lượn. Dưới chân tháp, những chiếc xuồng ba lá - phương tiện đặc trưng của vùng Đồng Tháp mười - cùng với những thôn nữ áo bà ba mộc mạc cùng vành nón che nghiêng, nhịp nhàng mái dầm đưa khách nhẹ lướt trên mặt nước trong vắt xuyên rừng tràm nguyên sinh. Bên mạn xuồng là đa dạng  các loài rau, cây cỏ, đặc biệt là hoa sen mang nét chân quê, mộc ạmc, chân chất như tính cách vốn có của con người ở đây.

Sau khi du ngoạn tận hưởng cảnh đẹp của rừng, du khách nên thưởng thức những món đặc sản của vùng Đồng Tháp Mười xưa: như cá lóc nướng gói với đọt sen, lá sâu nhái chấm với mắm me, rắn nướng mọi, cá linh nấu canh chua bông điên điển, mắm kho chấm với rau dừa, rau mát, bông súng và nhấm nháp rượu mật ong tràm tinh khiết.Món cơm gạo huyết rồng gói lá sen ăn với cá rô kho tộ cũng "bắt" không kém. Sau bữa trưa, gió hiu hiu, nằm võng đung đưa trên ao sen thả hồn vào cần câu, dù với kinh nghiệm của bà con miền này thì chỉ câu được cá vào buổi sáng hoặc chiều.

Những năm qua, đã có nhiều đoàn khách trong nước, nước ngoài đến Gáo Giồng tham quan, tận hưởng không khí trong lành, yên tĩnh và thư giãn trên chiếc xuồng ba lá êm nhẹ lướt trên những con kênh dưới tán rừng tràm mát rượi. Đây là điểm phát triển du lịch sinh thái khá lý tưởng. Tongue out

ĐÀN ÔNG NÊN ĐI CHỢ

TIỂU PHẨM VUI Trackbacks (0) Thêm góp ý   

Trước đây, chuyện đi chợ do vợ tôi đảm trách. Mọi việc sẽ như thế nếu như không có ngày đáng nhớ đó.

Số là tôi được cơ quan cho đi nghỉ mát tại thành phố sương mù. Trước khi về thấy các anh chị trong đoàn kéo nhau đi chợ mua quà, tôi cũng đi theo với mong muốn "lập thành tích" với bà xã. Lướt qua những gian hàng thủ công mỹ nghệ, thấy giá cả vượt quá tầm tay. Đến gian hàng rau qua, cô bán hàng bước ra đon đả:

-Mua đi anh! Bơ ngon lắm chỉ có 5.000đồng một ký. Chiều rồi em bán re để còn về.

-Nói chắc giá đi cô chủ - Tôi nói.

-Thôi khỏi kỳ kèo, em chịu lỗ 1.000 đồng, bán cho anh 4.000 đồng một ký thôi.

Tôi liền mua 3 kg. Thấy tôi nhìn đống bắp cải to, cô vui vẽ chào hàng:

-Bắp cải này chỉ có 1.500 đồng/kg.

Tôi mua 4 kg, cô chỉ lấy 5.000 đồng rồi đưa múi mít bảo tôi ăn thử. Ngọt thật. Mấy múi mít trông thấy đã con mắt. Anh mua hai trái em chỉ lấy mười ngàn thôi.Với đàn ông ai nói thách làm chi. An không ngon, em xin hoàn lại tiền.

Thấy cô gái "xuống nước", tôi mua luôn hai trái.

Cô nhoẻn miệng cười, tay thoăn thoắt bỏ tất cả vào cái giỏ lớn.

Về nhà, tôi tự tin lôi những cái mua được xếp trên bàn trước sự ngạc nhiên của bà xã.

-Dữ hen, bữa nay biết mua đồ la-ghim(rau quả) nữa chứ!Bơ này bao nhiêu một ký vậy anh?

-Chỉ có ba ngàn thôi. Tôi trừ hao để được khen.

Vợ tôi nhíu mày:

-Em mới mua ngoài chợ cho thằng Tuấn ăn có hai ngàn rưỡi một ký.Mà y như vầy. Còn bắp cải?

Tôi cố tỏ ra bình tĩnh, hạ giá xuống một nữa:

-Chỉ có 700 đồng hà!.

-Hôm qua chị Bảy ngoài chợ bán có 500 đồng một ký mà đâu có bầm dập như vầy. Hai trái mít để em xẻ ra xem sao nhé! Bao nhiêu một trái vậy anh?

Cụt hứng, tôi tiếp tục " đại hạ giá"

-Mua một trái 5000 đồng. Còn một trái thằng bạn cho.

-Như vậy là bằng giá ở đây.

Tôi thở phào một phút rồi trợn mắt khi thấy 2 quả mít vừa bổ ra chủ yếu là xơ.Vợ tôi chặc lưỡi:

-Anh bị người ta tráo hàng rồi.

Sau đó nàng quay về phía tôi nói như ra lệnh:

-Anh nên tập đi chợ cho quen.

Thế là từ bữa ấy, sáng nào tôi cũng xách giỏ đi chợ. Tuần đầu, món nào mua về cũng bị chê. Nhưng rồi tiếng chê bai mất dần thay vào đó là những lời khen nức nở. Tết này công việc đi chợ đương nhiên sẽ thuộc về tôi. Hỡi các ông chồng, hãy tăng cường đi chợ để có thêm... " kiến thức tiêu dùng" nhất là trước những lời mời dẻo quẹo.

CUOC THI KINH DI

TIỂU PHẨM VUI Trackbacks (0) góp ý (3)   
 

Cuộc thi "Những người ăn động vật kinh dị nhất thế giới" bước vào vòng chung kết chỉ còn 3 thí sinh .Thí sinh thứ nhứt hình như làmôït chàng trai châu Á bước ra sân khấu trên tay cầm một hộp nhỏ.Khán giả bên dưới hồi hộp dõi theo từng động tác của anh ta.Thí sinh ngửa cổ lên , tay bốc từng con thằng lằn sống trong hộp đưa lên cao cho mọi người thấy rõ rồi thong thả cho vào miệng nuốt . Có lúc anh ta còn biểu diễn bấm đuôi cho thằn lằn chui tọt vào cồ họng . Trong đám đông có nhiều tiếng nôn oẹ. Trả lời chất vấn của Ban giám khảo , anh ta cho biết theo y học phương Đông thì đây là phương thuốc chữa nhiều căn bệnh rất hữu hiệu . Ban giám khảo hội ý chớp nhoáng và cho điểm 8.

     Thí sinh tiếp theo là một người đàn ông trung niên vạm vỡ đến từ Tân thế giới.Không một giây chậm trể, ông ta nhanh nhẹn bốc từng vốc trùng đất đang quằn quại trong một chiếc thau đặt trước mặt cho thẳng vào mồm nhai ngấu nghiến.Không ít khán giả nôn mửa,ù té chạy ra ngoài .Chẳng mấy chốc cả thau trùng đất không còn sót lại con nào.Giải thích với ban giám khảo ,ông ta bảo ăn như thế tích luỷ được nhiều đạm cho cơ thể.Ban giám khảo ưu ái cho điểm 9.

     Cuối cùng một đôi vợ chồng nọ bước ra sân khấu,trên tay cầm một con gà chết.Họ nhanh chóng nấu nước ,nhổ lông rồi luộc gà,nấu cháo xé phay ăn ngon lành tại chổ .Vang lên những tiêng huýt sáo,la ó từ phía khán giả:

     Chẳng kinh dị gì cã!

    Thế mà cũng lọt được vào tận vòng chung kết! Thôi xuống đi!

Ban giám khảo gặng hỏi:

      -Ăn thịt gà thì có gì kinh dị?

      -Có đấy !Ở xứ tôi đang có dịch cúm gia cầm,hàng triệu con thi nhau toi mạng phải tiêu huỷ. Nghe bảo vi-rút cúm gà lây cả sang người nhưng vợ chồng tôi thuộc vào những người không biết sợ. Con gà này chúng tôi nhặt từ đống gà chết dịch đêm qua

     Khán giả đồng loạt rú lên,tiếng ho khan ,tiếng hắt hơi , nôn thốc tháo lẫn trong tiếng chen lấn giẩm đạp lên nhau thoát rakhỏi khán phòng .Ban giám khảo không cần hội ý cũng thống nhất cho điểm 10 rồi nhanh chóng biến mất.

ĐÊM GIĂNG CÂU

VĂN Trackbacks (0) Thêm góp ý   

   Tháng 9, 10 Âm lịch, nước từ thượng nguồn tràn về làm ngập cả cánh đồng rộng lớn ở quê tôi. Lẹ thiệt, chỉ mấy hôm trước, nước chỉ xâm xấp mặt ruộng mà bây giờ trở thành một biển nước trắng xóa. Xa xa vài căn nhà thưa thớt giữa đồng được bao bọc bằng những rặng trâm bầu xanh ngát. Thời điểm này mà nhà ai không có chiếc xuồng ba lá  thì việc đi lại thật khó khăn.

   Nhà tôi nằm ở vùng gò cao trong xóm vậy mà nước cũng mấp mé đến sân. Bữa nọ, chú Năm, em của  ba tôi, từ An Giang về ăn giỗ ông nội sẵn ở chơi với gia đình  hơn 10 ngày. Đã 45 tuổi mà dáng vóc chú còn khá là "lực điền", chỉ mấy cái răng "mặt tiền" là đã rụng muốn hết, mỗi lần cười thấy móm xọm!. Sáng hôm đó, chú đưa tôi tờ giấy bảo ra chợ xã mua nhợ và lưỡi câu theo số lượng đã ghi trong đó. Chú tươi cười nói: "Ở đây mấy bữa thấy "ngứa nghề". Tối nay mày đi với tao giăng câu, cắm câu nhen!". Tôi mừng rỡ đồng ý ngay vì từ lâu chú nổi tiếng là tay "sát cá" mà lâu lắm tôi mới có dịp được đi với chú để "thị phạm tay nghề" của chú như thế này...

Khi tôi trở về thì thấy chú đang chuốt những chiếc cần câu cắm bằng tre, bình quân mỗi cần dài khoảng 0,8 m. Được một bó khoảng 20 cần, chú lấy rơm đốt, hơ lửa, bẻ uốn tạo độ cong để cần câu có sức bật tốt, cá không sẩy được. Chú Năm nói khó nhất là "tóm" lưỡi câu vì nó đòi hỏi phải có tay nghề, nếu không chẳng con cá nào ăn, có khi nó chỉ rỉa hết mồi chứ không mắc vào lưỡi câu. Mấy lưỡi câu mới mua đều được bẻ hơi nghiêng khi cá ăn mới dính mép được. Nhợ câu cũng có hai loại: nhợ gân và nhợ nylon. Nhợ gân chú dùng cho câu cắm còn nhợ nylon để giăng câu bởi "nhợ nylon khi cuộn lại không bị rối"- chú "truyền đạt kinh nghiệm" cho tôi biết. Mỗi dây giăng câu dài khoảng 10 mét, cứ cách một đoạn trên 1 mét chú cột đoạn nhợ khoảng 0,5 mét, phía dưới có "tóm" lưỡi câu. Làm xong, tôi bơi xuồng đưa chú Năm ra mấy miếng ruộng ở gần nhà bươi những đống rơm mục tìm dế nhũi làm mồi câu. Đây là loài côn trùng mà cá lóc rất khoái. Chú Năm còn xách cái cuốc nhảy lên mấy cái liếp đất cao đào thêm một số trùn đất để bổ sung thêm mồi. Xong việc chú còn bảo tôi bơi xuồng đốn thêm mớ sậy để giăng câu.

   Chiều hôm đó, khi cơm nước, tắm rửa xong, tôi và chú Năm đưa hết "đồ nghề" xuống xuồng rồi chống xuồng đi. Ba tôi nói với theo:

- Hai chú cháu ráng kiếm cá lóc bự để mai nấu canh chua bông điên điển.

Chú Năm quay lại nói:

- Anh cứ an tâm, nghề của em mà!

   Chiếc xuồng rẽ nước lướt bon bon. Gió chướng thổi đều đều làm sóng nước cứ lăn tăn rồi vỗ vào thành xuồng văng lên tung tóe. Chú Năm bảo tôi cặp xuồng vào một bờ ruộng mà nước đã ngập, chỉ còn hàng cỏ  xanh rì nhô lên, cẩn thận cắm xuống ruộng từng đoạn sậy với khoảng cách 3 - 4 mét rồi cột dây giăng câu vào. Hai chú cháu lần lượt móc mồi trùn vào lưỡi câu. Lưỡi câu đã móc mồi thả sâu trong  nước khoảng một tấc để trừ hao nước ròng, nước lớn. Tất cả cần câu cắm được móc mồi dế nhũi và cắm dọc theo bờ kênh, ao đìa, mương liếp trồng rẫy mà người dân đã thu hoạch vì đây nước sâu, lại "êm" nên cá lớn thường trú ngụ. Các chú dế nhũi bị lưỡi câu móc vào lưng cứ chạy vòng vòng trên mặt nước như đánh động những chú cá đói đi tìm mồi. "Cá lóc thích ăn mồi động, cá trê thích ăn mồi chết", người đi giăng, cắm câu nào cũng biết bí quyết này!.

Trời sụp tối. Tôi và chú Năm bơi xuồng vào một cái chòi vịt đã bị ngập nước để chờ. Cá thường ăn mồi theo nước lớn, khoảng thời điểm giữa mùa ăn lúc chạng vạng, lúc trăng chuẩn bị mọc và gần hừng sáng. Cột chiếc xuồng vào gốc cây để không trôi, hai chú cháu nằm ngửa ra xuồng nhìn lên bầu trời đầy sao, lâu lâu có một làn gió mát rượi thổi qua, nghe xa xa tiếng vọng cổ ngân nga của ai đó vọng lại mà lòng trào dâng một cảm xúc lạ kỳ. Bỗng chú Năm nhép miệng ca theo và liên tục hát hết bài này đến bài khác. "Nếu mai thất nghiệp anh về quê cắm câu. Bắt con nhái bầu, cắm ngay đầu cầu, chờ cho nước lớn cá ăn câu. Tưởng đâu cá bự ai dè là em về làm dâu...". Nghe tiếng tôi cười, chú liền hỏi:

- Có gì mà mày cười?

- Con nghe lời ca có gì ngồ ngộ, vui vui vậy mà!

- Ừ, để tao kể cho mày nghe chuyện này vui lắm, hổng biết có thiệt hay không mà mà mấy ông ở An Giang truyền nhau từ đời này qua đời khác. Số là ở trên đó, mùa nước nổi lỡ có ai chết không thể chôn ngay được, người ta đưa quan tài ra cánh đồng, để trên một cái giá đỡ bằng gỗ được đóng chắc chắn, cách xa mặt nước. Người ta làm cái chòi bằng lá để che nắng, che mưa cho quan tài, chờ nước rút mới chôn. Đêm đó có anh thanh niên nọ sau khi giăng câu thì trời chuyển mưa, thấy cái chòi xa xa vội vã bơi đến cột xuồng rồi ngồi trú mưa. Mưa tạnh, anh bật hộp quẹt hút thuốc. Ánh sáng lóe lên cũng đủ để anh nhận ra trước mặt là chiếc quan tài to tướng!,  anh liền nhổ cây dầm bước ra phía trước xuồng bơi liên tục mà xuồng không chịu đi. Hoảng quá, anh la làng "Ma kéo xuồng, ma kéo xuồng" vang vọng cả cánh đồng. Mấy người giăng lưới gần đó bơi đến thì thấy anh đã ngất xỉu, còn chiếc xuồng vẫn cột chặt trong cái chòi. Mọi người vừa tìm cách làm anh tỉnh lại vừa tủm tỉm cười. Mấy ngày sau đó câu chuyện loan ra, cả xóm ai cũng biết.

   Nghe qua câu chuyện, tôi cười rũ rượi nhưng theo phản xạ cũng chộp lấy cái đèn pin rọi qua cái chòi vịt cho an tâm. Tiếng chú Năm vẫn kể đều đều những câu chuyện khác. Tôi nằm im nghe rồi thiếp đi lúc nào không hay.

Chú Năm đánh thức tôi dậy đi thăm câu là lúc gần nửa đêm. Cái đèn pin của chú sáng choang giúp tôi từ xa cũng trông thấy chỗ chú giăng câu động đậy liên tục. Như vậy là có cá đã mắc câu. Khi xuồng áp sát, tôi cắm dầm giữ xuồng không trôi, một tay cầm đèn pin rọi cho chú gỡ cá. Ôi chao: 1...2...3... rồi 7, 8 con cá trê vàng, trê trắng cùng hai con cá lóc mỗi con gần nửa ký được chú gỡ nhanh, cẩn thận bỏ vào cái thùng nước có nắp đậy. Gỡ hết cá, chú Năm cùng tôi móc mồi  lại rồi bơi đi thăm mấy cần câu cắm dọc bờ kênh. Qua 1, 2 cần đầu vẫn thấy mấy con dế nhũi ung dung bò trên mặt nước. Bỗng chú Năm ra hiệu cho  tôi bơi chậm lại vì cái cần câu phía trước bị kéo sát mặt nước. "Dính cá bự rồi" - chú Năm nói khẽ. Đến gần, chú nhẹ nhàng cầm chiếc rổ đưa sâu xuống nước dưới cần câu cắm. Con cá lóc quẩy mạnh làm nước văng tung tóe, cùng lúc cái rỗ rổ cũng được đưa vào xuồng. Con cá lóc khoảng 2 ký không còn sức để giãy nữa đành nằm im thin thít trong rổ trước khi bị đưa  vào thùng chứa. Ở mấy cần câu cắm còn lại gần phân nửa dính cá lóc, cá rô mề . Sơ sơ chỉ qua một lần thăm câu mà cũng kiếm được gần 7 ký cá. Tất cả số cá được đưa nhanh về nhà  rộng ngay để không bị chết. Sáng hôm sau, tôi và chú Năm đi "thu hồi" cần câu cắm cũng như dây giăng câu cũng kiếm thêm khoảng 4 ký cá nữa. Từ đó về sau, mỗi mùa nước nổi, tôi đều đi giăng câu, cắm câu một mình chẳng những kiếm đủ cá để ăn mà còn bán ở chợ xã nữa.

   Mấy năm nay, quê tôi nằm trong vùng đê bao khép kín nên ba tiếng "mùa nước nổi" thưa dần trong lời ăn tiếng nói của người dân. Tôi đi học rồi đi làm xa nhà, thỉnh thoảng mới về quê. Cái cảm giác mong chờ mùa nước nổi để đi giăng câu, cắm câu không còn nữa. Tôi nghĩ thầm: dẫu sao mình cũng còn may mắn có những đêm giăng câu tuyệt vời!...

CHỮ VÀ NGHĨA

TIỂU PHẨM VUI Trackbacks (0) Thêm góp ý   
 

Trước tình hình tai nạn giao thông trên các tuyến đường được bêtông hóa ở nông thôn gia tăng, Uỷ ban xã Tiền Tiêu quyết định buộc mọi người điều khiển môtô, xe máy vào ra khỏi nhà là phải đội mũ bảo hiểm. Thế là các biển nhắc nhở "Đường bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên môtô, xe máy" được dựng lên dọc theo các tuyến đường ấp, hương lộ, huyện lộ. Công an xã, dân quân du kích ra quân phối hợp với công an huyện trực suốt ngày đêm trên các tuyến đường để nhắc nhở, xử phạt người vi phạm.

Sáng hôm ấy, anh Sáu Cải chở thằng con mới 10 tuổi đi thăm ruộng.  Gần đến chốt kiểm soát anh mới sực nhớ: "Chết rồi! Hồi nãy sơ ý không đội mũ bảo hiểm cho thằng con". Liếc qua tấm biển báo, anh chợt loé lên "sáng kiến", liền quay sang thằng con bảo ngay:

- Con đứng lên vịn vào vai ba.

Thằng con ngơ ngác làm theo. Khi xe bị buộc dừng lại để nộp phạt, anh Sáu phân trần:

- Tấm biển ghi bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên môtô, xe máy. Khi nãy thằng con tôi đứng mà! Tôi vốn ít chữ viết sao hiểu vậy.

Anh công an xã nhìn lại tấm bảng gật gù: "Anh Sáu nói cũng đúng. Phải kiến nghị với Uỷ ban mới được". Anh Sáu Cải chỉ bị nhắc nhở rồi cho đi.

Mấy hôm sau, đồng loạt các biển báo đầu được thay đổi bằng dòng chữ "Đường bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi ngồi, đứng trên môtô, xe máy". Mọi người đều chấp hành nghiêm chỉnh cho đến một hôm trạm kiểm soát trên gặp phải trường hợp khó xử. Số là hai anh Tám Bùi và Ba Hâm chở nhau trên xe máy có đội mũ bảo hiểm nhưng không cài quai với ý đồ qua trạm sẽ tháo xuống. Khi bị chặn lại, anh Tám Bùi phân bua:

- Tụi tôi có đội mũ bảo hiểm cả. Trên biển đâu có bắt buộc người đội mũ bảo hiểm phải cài quai đâu!

Các anh công an, dân quân ngẫm thấy cũng có lý "Nông dân mà, mình phải ghi cụ thể". Mấy tuần sau trên các biển lại thấy xuất hiện thêm dòng chữ "Khi đội mũ nhớ cài quai". Nhờ vậy mà mấy tháng sau đó mọi người dân trong xã đều chấp hành tốt việc đội mũ bảo hiểm khi lưu thông bằng môtô, xe máybất kể đó là đường gì. Xã được biểu dương là điển hình tiên tiến của cả nước. Bằng khen, giấy khen tới tấp đưa về và nghe đâu tỉnh đang đề nghị trung ương tặng huân chương.

Ít lâu sau, số người đội mũ bảo hiểm cứ thưa dần chỉ còn không đầy 50% mà Ban an toàn giao thông không hiểu lý do. Một hôm, cảnh sát giao thông thổi phạt anh Sáu Cải vì không đội mũ bảo hiểm trên tuyến đường bắt buộc. Anh Sáu thật thà trình:

- Tôi là người chấp hành rất nghiêm chỉnh đó chứ. Nhưng mà trên bảng tôi thấy đâu có qui định: khi mũ hư  phải thay mũ khác. Hôm qua bị té xe, mũ bể đây này!

Anh Sáu vừa nói vừa lấy chiếc mũ bảo hiểm bị bể nát trong giỏ ra trước sự ngỡ ngàng của hai anh cảnh sát giao thông.

KHU LƯU NIỆM CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG

DI TÍCH - THẮNG CẢNH Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

  Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng nằm trên cù lao ông Hổ (xã Mỹ Hoà Hưng, TP Long Xuyên, An Giang) ngày nay trở thành điểm tham quan du lịch kết hợp với giáo dục truyền thống đầy sức hấp dẫn. Đây cũng là nơi đất phù sa màu mỡ, bốn mùa cây trái xum xuê, toả bóng mát che kín các con đường, gió thổi hiền hoà, quanh năm sóng vỗ dạt dào.

Khu lưu niệm được xậy dựng trên diện tích hàng chục hecta, bao gồm: khu lưu niệm thời niên thiếu của Bác Tôn, nhà trưng bày thân thế sự nghiệp và đền thờ của Bác. Xen kẻ là khu vườn hoa khoe mình trong nắng, bên cạnh những cây cao toả bóng mát xuống các lối đi. Nhìn xuống  dưới ao hồ, từng đàn cá tung tăng quẩy đuôi trong nước. Phong cảnh thật hữu tình. Men theo con đường tráng nhựa cao ráo, sạch sẽ, chúng tôi bước vào ngôi nhà của Bác sống thời niên thiếu. Cũng như bao ngôi nhà của bà con sống ở vùng đất cù lao này, nhà Bác là kiểu nhà sàn, nhưng thấp hơn nhà sàn của đồng bào Tây Nguyên. Nhà được xây dựng theo lối 3 gian 2 chái có diện tích 156m2  , toàn bộ được làm bằng gỗ thao lao, cột tràm, mái lợp ngói âm dương. Bước vào nhà ai ai cũng thấy gần gũi bởi cách bố trí bàn thờ gia tiên, bàn ghế rất đặc trưng của người dân Nam Bộ. Hai bên là phòng ngủ của gia đình. Chiếc tủ bên phải là của song thân Bác sử dụng từ xưa. Bộ ván gõ ở gian trước lúc thơ ấu Bác Tôn thường nằm nghỉ. Bên trên, những tấm ảnh trắng đen dù đã cũ nhưng toát lên được tình cảm đầm ấm của gia đình. Phía trước nhà là khoảng sân nhỏ có bàn thiên rất đơn sơ, cây kiểng chỉ loại thường thể hiện được đức tính giản dị, khiêm nhường của gia chủ. Phía sau cách nhà 70 mét là khu mộ những người thân của Bác được xây dựng đơn giản nhưng trang nghiêm. Đây là di tích quan trọng nên năm 1984, bốn năm sau khi Bác mất, Bộ Văn hoá Thông tin có quyết định công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.

Rời ngôi nhà thời niên thiếu, chúng tôi bước sang nhà trưng bày thân thế và sự nghiệp của Bác trên những con đường lát đá mô phỏng hình mặt trời. Hình ảnh, hiện vật, mô hình bố trí theo trình tự thời gian. Qua đây, chúng tôi được biết gia đình của Bác có 6 người: cụ ông Tôn Văn Đề, cụ bà Nguyễn Thị Dị và 4 người con: Tôn Đức Thắng, Tôn Thị Kiệm, Tôn Đức Nhung và Tôn Thị Yến. Còn bác gái Đoàn Thị Gàu (tự Kim Oanh) quê quán xã Vĩnh Kim (Châu Thành - Tiền Giang). Nếu như năm 1911, từ bến Nhà Rồng, có chàng trai người xứ Nghệ bước lên tàu sang Pháp tìm đường cứu nước, thì năm 1912 có chàng thanh niên người Nam Bộ cũng trên chiếc tàu sang Pháp với ước nguyện giải phóng dân tộc. Hai con người nhưng một chí hướng. Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Hình ảnh của 2 vị Chủ tịch xuất hiện rất nhiều trong phòng trưng bày vừa gần gũi, vừa thân thương. Du khách sẽ cảm động khi nghe giới thiệu lai lịch bộ đồ nghề, chiếc xe đạp đòn vông mà Bác sử dụng khi đi làm ở Sài Gòn hay sau này làm việc tại Hà Nội, hoặc chuyện đôi giày hàm ếch của Bác gửi tặng cho bác Nhung (em Bác) ở quê nhà,...

Đối diện với nhà trưng bày là đền thờ Bác Tôn được xây dựng theo lối kiến trúc đền đài cổ Việt Nam pha nét đặc thù của đồng bằng Nam Bộ. Tổng diện tích ngôi đền 1600m2,trong đó diện tích chính điện là 110m2. Đền xây dựng trên nền cao, khi vào phải qua các bậc thang. Mặt chính ngôi đền nhìn về hướng Bắc: hướng thủ đô Hà Nội. Phần trang trí bên trong khá đơn giản, mộc mạc. Trung tâm đền thờ là tượng đồng bán thân Chủ tịch Tôn Đức Thắng nổi bật trên phông đỏ bằng gạch men, giữa có bức phù điêu mặt trống đồng Ngọc Lũ. Toàn bộ gỗ sử dụng trong đền là gỗ giáng hương có tuổi thọ hàng trăm năm. Nền lót bằng đá granit - loại khoáng sản quí của vùng Thất Sơn. Chúng tôi lần lượt thắp nén hương trước tượng Bác, lòng đầy cảm phục đức tính cao quí, kiên định của người bạn  thân thiết của Bác Hồ.

Trong khuôn viên đền thờ, các loại hoa kiểng quí được chăm sóc kỹ lưỡng. Những chậu cây Xanh, Kim quýt, Cần thăng,... từ nhiều nơi gởi đến được bố trí hài hoà trước cửa đền. Đặc biệt, hai khu vườn phía trước đền là nơi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, địa phương, các cựu chiến binh trong và ngoài tỉnh trồng cây lưu niệm. Những cây Sao, Dầu, Bồ đề ở đây giờ đã xanh tươi góp phần tô điềm thêm nét đẹp của khu di tích.

Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng luôn được tu sửa khang trang, chăm sóc sạch sẽ một phần lớn có sự đóng góp của Sở Văn hoá - Thông tin An Giang và những người làm công tác văn hoá tại địa phương. Đó cũng là việc làm có ý nghĩa tỏ lòng tôn kính của thế hệ sau đối với một vị lãnh tụ cách mạng của nước nhà.

 

CHÙA KIM TIÊN

DI TÍCH - THẮNG CẢNH Trackbacks (0) Thêm góp ý   


 

Kim Tiên là ngôi chùa cổ toạ lạc ở khu phố 6, thị trấn Cai Lậy (Tiền Giang), cách quốc lộ 1A 150m về phía Nam. Sự ra đời của ngôi chùa đáp ứng được nhu cầu tâm linh của người dân trong vùng, nhất là lưu dân đi khai phá ở thế kỷ XVII - XVIII. Dần dà ngôi chùa vươn lên có ảnh hưởng đến cả một vùng.

Theo các cụ cao niên kể lại, trước kia, ngôi chùa nằm trên một gò đất cao giữa cánh đồng. Xung quanh chùa trồng nhiều cây sao, cây dầu. Quyển "Địa phương chí" viết năm 1902 cho biết: chùa Kim Tiên được xây dựng vào thời Cảnh Hưng (khoảng từ năm 1740 - 1786) ở Rạch Cái Nứa (nay thuộc xã Thanh Hòa, Cai Lậy). Giữa thế kỷ XVIII, chùa Kim Tiên được dời về chợ Cai Lậy, nằm ở khu vực đất họ Hồ do Bảo hộ Hồ Văn Lân (công thần triều đình Gia Long) hiến cúng. Trãi qua trên 200 năm tồn tại, ngôi chùa đã qua nhiều vị hoà thượng trụ trì, trùng tu. Đến ngày 30-4-1975, chùa Kim Tiên được thầy Quãng Châu, một tu sĩ trong huyện Hôi Phật Giáo Lục Hòa Tăng Cai Lậy quản lý. Đến năm 1997, thầy Châu nhượng trách nhiệm trụ trì lại cho Hoà Thượng Thích Bửu Thông (nguyên trưởng Ban trị sự tỉnh Hội Phật Giáo Tiền Giang). Thầy Bửu Thông đã trùng tu ngôi chùa Kim Tiên khang trang hơn trước.

Ngay tại sân chùa, các chậu hoa kiểng đủ loại được bố trí hài hòa, đẹp mắt. Tượng Phật ø Quan Thế Âm ngự trên tòa sen ở giữa sân được các chú tiểu và nhà sư trông nom khá chu đáo, có mái che, đèn điện chiếu sáng. Từ cửa đi vào chánh điện, những tượng Phật thờ vẫn uy nghi trên bệ xây bố trí theo lớp lang, khói hương luôn nghi ngút. Tại đây có một pho tượng bằng đồng cao 1m, ngang 80cm đúc từ khi lập chùa, một báu vật có giá trị lịch sử, văn hóa bậc nhất ở Tiền Giang. Hai tượng Phật Thích Ca, một bằng xi măng một bằng đất sét được sơn son thếp vàng cao 1m, ngang 80cm với nét mặt ánh lên sự phúc hậu, hiền từ  nhìn xuống phật tử  đang chiêm bái. Cạnh đó bộ 3 tượng Thập điện bằng gỗ cao 80cm sơn son thếp vàng luôn tạo sự chú ý của mọi người về nét chạm khắc khá tinh xảo của những nghệ nhân ngày xưa. Tượng Phật Di Lặc bằng đất sét cũng được sơn son thếp vàng và một tượng Văn quan ngồi bằng gỗ cao 80cm( áo có hoa văn rồng) như tô điểm thêm nét tín ngưỡng Phật Giáo của cư dân Cai Lậy, có kết hợp với nho học thời phong kiến. Ba bộ bao lam ở chánh điện, trong đó có hai bộ chạm tùng lộc mai điểu, bộ lam ngay chánh điện chạm Cửu Long rất tinh xảo, ba bộ ở nhà tổ chạm lộng hoa lá. Với những đường nét tạo hình độc đáo và nghệ thuật kiến trúc mới lạ, cùng với những môtíp trang trí của nó đã thể hiện phần nào nhân sinh quan của cư dân nơi đây. Trong bảy đôi liễn được treo ở chùa, rất nhiều người chú ý đến một đôi do cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh) viết tặng khi chùa trùng tu lại, với nội dung:

Đại Đạo Quãng Khai Thố Giác Đàm Đế Nguyệt

Thiền Cỏ Giáo Dưỡng Qui Mao Thằng Thọ Đầu Phong.

(Rộng mở Đạo Thiền như tìm sừng thỏ khêu bóng trăng đáy nước.

Nuôi dưỡng mái thiền như tìm thấy lông rùa để trói ngọn gió vào đầu ngọn cây).

Hiện nay chùa còn có 6 bức hoành có biển "Kim Tiên tự" được lập từ khi mới xây dựng chùa được sơn son có chạm trổ hoa văn rất đẹp. Ngoài ra, chùa còn nhiều hiện vật bằng đồng có giá trị nghệ thuật cao như: lư hương, đại hồng chung, một mõ gỗ chạm đầu rồng... cùng nhiều di vật quí hiếm khác.  Phía sau chánh điện là nơi thờ các vị Hoà Thượng đã viên tịch, kề bên có di ảnh của những phật tử đã từ trần được gia đình tin tưởng gởi vào đây. Đặc biệt còn một khám thờ chung quanh chạm trổ hoa văn dây lá được làm năm Canh Tý (1840), hai bên có câu đối:

Kim Tu Di Đỉnh Thượng Truyền Thích Đạo.

Tiên Phổ Đà Tuyết Lãnh Thọ Ca Sa.

(Vàng trên đỉnh núi Tu Di truyền đạo Thích

Tiên mú tuyết phổ Đà nhận cà sa)

Điều đáng nói là các hiện vật trên được sử dụng, phối cảnh cùng các hiện vật kiến trúc khác mà không có sự khập khểnh. Đặc điểm chung của các tượng Phật ở chùa là không cao  lớn như ở những chùa khác. Các di vật trong chùa còn rất ít so với lúc chùa mới trùng tu năm 1920, tuy nhiên những di vật còn lại đều liên quan đến sự thành lập chùa và có giá trị về mặt lịch sử, nghệ thuật. Phía ngoài chùa là những mộ tháp của các nhà sư trụ trì ở chùa lâu năm đã viên tịch. Nhưng ngôi mộ tháp này xây dựng khang trang, bảo quản chu đáo.

Chùa Kim Tiên là một di tích có giá trị lịch sử quan trọng đối với nhân dân địa phương. Trãi qua trên 200 năm tồn tại, chùa Kim Tiên thu hút đông đảo người dân trong vùng tìm đến  để thả hồn vào chốn yên lắng nơi cửa Phật. Vào những ngày mồng một và rằm âm lịch, phật tử khắp nơi đổ về đây lạy Phật, cầu mong những điều tốt lành. Thời nước ta còn bị thực dân Pháp thống trị, chùa còn là nơi lui tới hội họp của những nhà trí thức yêu nước. Đặc biệt, thân sinh của Hồ Chủ Tịch - cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - có về đây đàm đạo cùng các vị sư  và cũng như  nhân sĩ trí thức yêu nước ở Cai Lậy vào những năm 19-20 của thế kỷ XX, đồng thời bốc thuốc chữa bệnh cho dân nghèo quanh vùng.

Qua nhiều lần trùng tu (lần gần đây nhất là vào năm 1999) nhưng chùa Kim Tiên vẫn giữ được nét cổ kính như từ ban đầu khi mới thành lập, và hôm nay khang trang hơn do  được bảo quản tốt. Ngôi chùa giờ đây trở thành một di tích có giá trị lịch sử và văn hóa của địa phương. Giữa chốn thị thành huyên náo, những người gặp ngang trái trên đường đời, trắc trở trong sự nghiệp tìm đến ngôi chùa sự hư tịch, vắng lặng để tịnh tâm, có khi tìm ra hướng giải quyết. Vì thế, chùa Kim Tiên có một ảnh hưởng nhất định đến đời sống tinh thần của nhân dân trong vùng.

CHÙA PHẬT ĐÁ – NGÔI CHÙA CÓ BỀ DÀY LỊCH SỬ

DI TÍCH - THẮNG CẢNH Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 


   Chùa Phật Đá (Linh Phước cổ tự ) tọa lạc tại thị trấn Mỹ Phước, huyện Tân Phước - Tiền Giang), tuy qui mô không hoành tráng như nhiều ngôi chùa khác, nhưng xưa kia nổi tiếng khắp một vùng rộng lớn, từng gắn bó với tên làng, tên đất. Nhiều người biết đến chùa không chỉ vì nguồn gốc ra đời có nhiều bí ẩn mà còn vì bề dày lịch sử của chùa.

Chuyện kể rằng: vào năm 1772 có ông Lương là mục đồng lớn tuổi, người thôn Bà Bèo. Một hôm như thường lệ, ông thả trâu trên cánh đồng hoang, sình lầy rộng lớn. Khi ông cho trâu lội ngang qua Bàu Sọ (nằm giữa Bàu Sấu và Bàu Bèo), gặp phải một tượng đá dài, to lớn đứng thẳng đứng dưới lớp sình dày. Ông liền chạy về báo cho dân làng biết. Các vị kỳ lão và bà con vội vã chạy đến cùng nhau đem tượng lên xem thì phát hiện đây là pho tượng Phậït bằng đá có bốn tay: hai tay trên cầm mặt nhật, mặt nguyệt; hai tay dưới cầm trái châu và tích tượng, đứng trên tòa sen cao khoảng 1,40m. Dân làng vui mừng bàn nhau rước tượng về lập chùa thờ với tên gọi là chùa Phật Đá. Địa điểm cách chùa hiện tại 500m về hướng Tây Bắc. Ông Lương tình nguyện hằng đêm đến thắp hương cho Phật  và trông nom chùa. Từ đó, giữa vùng hoang vu vắng lặng xuất hiện tiếng mõ cầu kinh, cùng những hồi chuông ngắm dài xua đi màn đêm cô tịch. Năm 1789 chùa được một viên quan của triều đình là Bảo Hộ hỗ trợ xây dựng lại khang trang và đặt tên chùa là "Linh Phước cổ tự", khách thập phương đến cúng viếng ngày một đông.

Khi thực dân Pháp xâm lược lục tỉnh, chùa không còn khách vãng lai, trở nên hoang vắng, quạnh hiu. Năm 1886, tượng Phật bị trẻ mục đồng đánh cắp đưa về tận chùa Mục Đồng ở Chợ Bưng. Mãi đến năm 1897, mọi người phát hiện và đưa trở về chùa, sau đó rước cụ Từ Hòa về hộ trì chùa. Đầu thế kỷ XX, khi Pháp cho Xáng đào kênh La - com, chùa di dời về chỗ hiện nay với diện tích 7 ha và được Hòa Thượng Thích Quảng Ân (trụ trì) cho xây ngôi chùa mới có 4 nóc rất khang trang. Ông còn cho làm khuôn đúc Phật, đúc được tượng Phật Chuẩn Đề 18 tay. Tín đồ phật tử tề tựu ngày một đông. Lúc này, chùa được giáo hội Phật giáo công nhận là "Linh Phước cổ tự".

Năm 1927, chùa được trùng tu, xây tường nối dài nhà Tổ, xung quanh vườn chùa có những cây sao lâu năm cao ngất. Khách thương buôn từ phương xa nhìn hàng sao ấy mà biết địa điểm chùa Phật Đá - Bàu Bèo. Thuở ấy, nhiều bậc anh tài đã đến viếng chùa để lại một số bài thơ, vịnh  phú ca ngợi vẻ đẹp của chùa. Năm 1946, khi Pháp chiếm được Bàu Bèo, chùa Phật Đá bị hư hại nặng. Hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, chùa đã mang "đại hồng chung" và tất cả đồ đồng trong chùa đến hiến cho công binh xưởng để chế tạo vũ khí chống Pháp. Hàng trăm cây sao to trong chùa cũng được hiến để làm cản chặn tàu địch, bảo vệ vùng giải phóng. Trụ trì chùa cũng tham gia Việt Minh chống Pháp. Hòa bình lập lại, chùa được tái xây dựng, nhưng không bao lâu thì chiến tranh bùng nổ, chùa phải di tản ra Gò Lũy (xã Nhị Bình, Châu Thành - Tiền Giang), sau đó dời về phường 5 thành phố Mỹ Tho. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chùa cũ chưa kịp khôi phục thì tiếc thay năm 1978, pho tượng Phật bằng đá nguyên bản tại phường 5 bị đánh cắp mất biệt. Năm 1979 chùa xây dựng lại trên nền cũ với sự đóng góp của phật tử. Từ đó, chùa Phật Đá đáp ứng được nhu cầu tâm linh của người dân trong vùng. Phát huy truyền thống của chùa Phật Đá xưa, Thượng Tọa Thích Nhuận Sanh không ngừng chăm lo hành đạo và nhập thế giúp đời, quan tâm đến các hoạt động từ thiện.

Đầu năm 2006, được sự giúp đỡ của Ban trị sự Phật giáo Tiền Giang, Chư tôn Đức tăng ni trong và ngoài tỉnh cùng các tín đồ gần xa tiến hành trùng tu lại ngôi chùa từ Chánh điện đến Hậu tổ khá khang trang như hiện nay với kinh phí 1,6 tỉ đồng. Tượng Phật Đá được phục chế đúng nguyên bản thỏa lòng mong ước của phật tử trong vùng. Hôm nay, đến viếng chùa, du khách sẽ bắt gặp  các chậu hoa kiểng đủ loại được bố trí hài hòa, đẹp mắt trên một nền cao phía trước chùa. Tượng Phật  Quan Thế Âm ngự trên tòa sen được chú tiểu và nhà sư trông nom khá chu đáo, có mái che, đèn điện chiếu sáng. Từ cửa đi vào chánh điện, những tượng Phật thờ vẫn uy nghi trên bệ xây bố trí theo lớp lang, khói hương luôn nghi ngút. Khuôn viên chùa có nhiều bóng cây vừa mát mẻ vừa tạo vẻ thanh tịnh, trang nghiêm. Gần đây, đông đảo du khách trong và ngoài nước thường lui tới chiêm bái, thưởng ngoạn khung cảnh trang nghiêm của chùa Phật Đá.

Với chiều dài lịch sử và vị trí của chùa hiện nay, chùa  Phật Đá - Linh Phước cổ tự - xứng đáng là một di tích văn hóa có uy tín trong vùng. Giữa chốn thị thành huyên náo, những người gặp ngang trái trên đường đời, trắc trở trong sự nghiệp tìm đến ngôi chùa sự hư tịch, vắng lặng để tịnh tâm, có khi tìm ra hướng giải quyết. Vì thế, chùa Phật Đá có một ảnh hưởng nhất định đến đời sống tinh thần của nhân dân trong vùng.

CUỘC THI KINH DỊ

TIỂU PHẨM VUI Trackbacks (0) góp ý (4)   
 

Cuộc thi "Những người ăn động vật kinh dị nhất thế giới" bước vào vòng chung kết chỉ còn 3 thí sinh .Thí sinh thứ nhứt hình như làmôït chàng trai châu Á bước ra sân khấu trên tay cầm một hộp nhỏ.Khán giả bên dưới hồi hộp dõi theo từng động tác của anh ta.Thí sinh ngửa cổ lên , tay bốc từng con thằng lằn sống trong hộp đưa lên cao cho mọi người thấy rõ rồi thong thả cho vào miệng nuốt . Có lúc anh ta còn biểu diễn bấm đuôi cho thằn lằn chui tọt vào cồ họng . Trong đám đông có nhiều tiếng nôn oẹ. Trả lời chất vấn của Ban giám khảo , anh ta cho biết theo y học phương Đông thì đây là phương thuốc chữa nhiều căn bệnh rất hữu hiệu . Ban giám khảo hội ý chớp nhoáng và cho điểm 8.

     Thí sinh tiếp theo là một người đàn ông trung niên vạm vỡ đến từ Tân thế giới.Không một giây chậm trể, ông ta nhanh nhẹn bốc từng vốc trùng đất đang quằn quại trong một chiếc thau đặt trước mặt cho thẳng vào mồm nhai ngấu nghiến.Không ít khán giả nôn mửa,ù té chạy ra ngoài . Chẳng mấy chốc cả thau trùng đất không còn sót lại con nào. Giải thích với ban giám khảo ,ông ta bảo ăn như thế tích luỷ được nhiều đạm cho cơ thể.Ban giám khảo ưu ái cho điểm 9.

     Cuối cùng một đôi vợ chồng nọ bước ra sân khấu, trên tay cầm một con gà chết. Họ nhanh chóng nấu nước ,nhổ lông rồi luộc gà, nấu cháo xé phay ăn ngon lành tại chổ. Vang lên những tiêng huýt sáo, la ó từ phía khán giả:

     - Chẳng kinh dị gì cả !

    Thế mà cũng lọt được vào tận vòng chung kết! Thôi xuống đi!

Ban giám khảo gặng hỏi:

      -  Ăn thịt gà  thì có gì kinh dị?

      - Có đấy ! Ở xứ tôi đang có dịch cúm gia cầm,hàng triệu con thi nhau toi mạng phải tiêu huỷ. Nghe bảo vi-rút cúm gà lây cả sang người nhưng vợ chồng tôi thuộc vào những người không biết sợ. Con gà này chúng tôi nhặt từ đống gà chết dịch đêm qua

     Khán giả đồng loạt rú lên, tiếng ho khan, tiếng hắt hơi, nôn thốc tháo lẫn trong tiếng chen lấn giẩm đạp lên nhau thoát ra khỏi khán phòng. Ban giám khảo không cần hội ý cũng thống nhất cho điểm 10 rồi nhanh chóng biến mất.

THÁP NHẠN Ở TUY HÒA

DI TÍCH - THẮNG CẢNH Trackbacks (0) góp ý (2)   



Phú Yên có đỉnh Cù Mông

Có hòn Nhạn Tháp, có dòng sông Ba.

Câu ca dao giản dị đã ghi lại một số đặc điểm địa lý của Phú Yên, trong đó có Tháp Nhạn. Nếu như thành phố Nha Trang tự hào có Tháp Bà cổ kính bên cầu Xóm Bóng, thì thành phố Tuy Hòa cũng có thể tự hào với Tháp Nhạn đứng trơ gan cùng tuế nguyệt trên núi Nhạn, soi bóng xuống dòng Đà Giang trong xanh, thơ mộng và trữ tình.

Tuy Hòa, một thành phố ven biển tuy nhỏ nhưng thật duyên dáng. Hòn núi Nhạn xanh um trên đỉnh như một hòn non bộ giữa lòng thành phố. Truyền thuyết về núi Nhạn có rất nhiều, tuy nhiên, từ xa trông về, núi rất giống hình con chim nhạn đang thu mình chuẩn bị bay bổng lên trời cao. Đường đi lên Tháp rất nhiều nhưng con đường chính rất rộng, dễ đi ngay cả ô tô cũng có thể đưa du khách tiếp cận đến Tháp. Ngôi Tháp hiện ra trông đồ sộ, cổ kính trong một khuôn viên trên 1000m2, xung quanh được lát gạch và quét dọn sạch sẽ. Trước nay, kể cả giới nghiên cứu cũng thường bị "dân gian hóa" mặc nhiên gọi tháp này, tháp kia trong tư duy đơn lẻ, và cái tên Tháp Nhạn (Tháp trên núi Nhạn) cũng xuất phát từ đây. Theo sử cũ ghi lại, Tháp được dựng lên từ  vào thời chúa Nguyễn Hoàng khoảng từ năm 1578 - 1580. Nhiều nhà khoa học còn phỏng đoán Tháp này cùng thời với Tháp Bà Pô Na Ga ở Nha Trang vì các viên gạch ở Tháp Nhạn và Tháp Bà giống nhau về sức chịu đựng, sự tàn phá của thời gian. Tháp Nhạn cao khoảng 15m, hình chóp nhọn đầu hơi tà vì tảng đá đặt trên nóc Tháp trong thời chiến tranh đã rơi xuống. Ngày nay, đỉnh Tháp được tôn tạo lại nhưng vết tích vẫn còn. Chân Tháp hình vuông, mỗi cạnh dài hơn 10m. Điều đặc biệt là các viên gạch xây Tháp rất lớn, không giống như Tháp Chàm ở Phan Rang, thỉnh thoảng cũng xen vào những viên gạch rộng hơn 20cm, và những viên gạch này được xây theo kiểu chiều ngang một loạt, đầu quay trở ra. Cũng giống như phần lớn các Tháp Chăm, hướng chính của Tháp là hướng Đông phản ánh vũ trụ quan của Ấn giáo, vì đây là hướng của thần thánh, của sinh sôi nảy nở. Kiến trúc của Tháp gồm ba phần mà theo quan niệm của người Chăm, đó là: trần tục, tâm linh và thần linh. Trãi qua biết bao biến động cũng như thời gian, Tháp bị hư hại, phần lớn không còn đủ các thành phần như lúc khởi dựng. Tuy nhiên, những hoa hoa văn trên thành Tháp vẫn còn sắc nét, thể hiện trình độ kiến trúc điêu luyện của người xưa. Dưới chân Tháp được gắn ốp các thành phần bằng đá sa thạch. Trong Tháp có tượng Bà được thờ cúng trang nghiêm, du  khách tham quan  đều đến thắp  hương cầu nguyện. Xưa kia, Tháp có những cái am nhỏ được dựng vào thời Hậu Lê để thờ Bà Thượng Đỉnh Chúa Thiết A Na Diễn Ngọc Phi. Trong thời kháng chiến, am này bị bom đạn tàn phá. Sau này, khi hòa bình lập lại, nhân dân Tuy Hòa mới góp công, góp của dựng lại một ngôi miếu trên nền cái am cũ như to lớn  hơn với 4 chữ "Thượng Đỉnh Linh Miếu".

Đứng từ chân Tháp, du khách có thể phóng tầm mắt quan sát các phố phường trong thành phố Tuy Hòa đang thay da đổi thịt. Nhìn về phương Nam thấy xa xa là dãi đèo Cả khi tỏ, khi mờ. Trên đèo có núi Đá Bia cao vút như chọc thủng trời xanh, chóp núi quanh năm mây mù bao phủ. Xa hơn nữa là biển Đông mênh mông sóng nước và dòng Đà Rằng thướt tha như  lụa cùng ruộng đồng thẳng cánh cò bay kéo dài đến chân đèo Cả. Cảnh non nước thật hữu tình. Có lẽ vì thế mà mấy năm nay, Hội thơ Nguyên tiêu của tỉnh Phú Yên đều tổ chức dưới chân Tháp Nhạn.

Cách Tháp Nhạn không xa, một tượng hình cánh nhạn đang dựng lên. Và biết đâu chừng đây sẽ là biểu tượng của thành phố Tuy Hòa trong tương lai. Ngày nay, du khách đến Tuy Hòa ai cũng muốn lên núi viếng Tháp, tìm hiểu thêm về nghệ thuật kiến trúc đã góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.

NÓNG

TIỂU PHẨM VUI Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

Lần nọ, Mr. Bean sang Việt Nam để tránh cái nóng kỷ lục ở Anh. Vừa đặt xuống sân bay, Bean tiến thẳng tới chiếc taxi đang chờ. Mặc dù mới bập bẹ tiếng Việt nhưng Bean cũng đỏ mặt khi nhìn tấm biển quảng cáo nhãn hiệu băng vệ sinh phụ nữ to tướng trên nóc toà nhà, bên dưới có ghi dòng chữ "siêu thấm". Bean vội vã lấy tay che mặt chui tọt vào xe chạy một mạch về khách sạn. Bước vào khách sạn, Bean được đón tiếp niềm nở. Làm xong thủ tục, ông cầm lấy chìa khoá đến thang máy để lên phòng ở tầng 5. Cô lể tân xinh đẹp bước ra nhỏ nhẹ:

-Hôm nay khách sạn bị cúp điện. Ngài cảm phiền đi bộ lên phòng.


Chỉ nghe thế, mồ hôi của Bean vả ra như tắm. Dù có mệt nhưng cuối cùng cũng đến được phòng. Bean cởi chiếc áo khoác rồi lật đật mở toang các cửa sổ và bước nhanh ra hành lang. Đảo mắt nhìn cảnh sinh hoạt của người dân bên dưới ngài hài lòng mĩm cười. Nhưng ngài chợt rú lên lấy tay che mặt lại lũi ngay vào phòng. Dù lúc này máy lạnh đã hoạt động vậy mà gương mặt Bean vẫn đẩm mồ hôi. Thì ra đối diện với khách sạn người ta phơi quần áo lung tung bất kể đó là mặt tiền, thậm chí có cả "phụ tùng" của phụ nữ.

Sáng hôm sau, sợ cảnh xe cộ chạy lung tung, Mr. Bean quyết định đi bộ một vòng quanh các đường phố lớn. Quen kiểu đi trên vỉa hè ở Anh nên ngài nhiều lần phải xin lỗi người bán hàng rong trên vỉa hè. Vừa đi vừa ngắm cảnh, Bean bắt gặp một bé gái trông rất xinh đang bồng đứa em tiến đến ngữa tay xin tiền. Cảm động, ngài lấy 10 USD trong túi dúi vào tay đứa bé. Lập tức đám con nít không biết từ đâu chạy ào đến van nài cho tiền, mua vé số, đậu phộng, thuốc hút... Bean choáng váng như người bị say nắng tìm mọi cách đẻ thoát đôi quân ấy. Vùng ra khỏi, ngài rẽ qua đường phố khác tay làm dấu thánh, miệng nói tiếng Việt lơ lớ: "Kinh khủng quá!". Vừa thở hổn hểnh, vị khách người Anh lại cảm thấy mùi gì khó chịu. Nhìn dáo dác một hồi cũng phát hiện nơi xuất phát, nó bốc lên từ dòng kênh đen cặp công viên. Lấy tay bịt mũi, Bean muốn đi nhanh cũng không được vì vấp phải những bọc rác mà ai đó vứt tứ tung trên đường. Mới đi thong thả một đoạn, chiếc áo lại hứng trọn một bãi nước bọt của ai đó từ trên cao rơi xuống. Nóng máu, ngài vừa đi vừa ngữa mặt lên tìm "tác giả" thì đụng phải thằng cha nào đó mặt đỏ gay đang "xả bầu tâm sự" ở gốc cây trên vỉa hè. Dù vị khách Anh vả mồ hôi trán luôn miệng xin lỗi nhưng người ấy vẫn văng miệng: "Đồ mất lịch sự" bằng tiếng Anh rất chuẩn làm Bean há hốc mồm. Mồ hôi bây giờ đổ ra như tắm.

Tối hôm ấy, Bean về phòng lấy quyển nhật ký ra viết đúng theo phong cách của mình: "Thời tiết ở đây mát hơn ở Anh nhưng tôi luôn gặp những chuyện mà càng thấy nóng như đổ lửa... Trời ạ! Xin ngài hãy dứt cơn mưa để tôi hạ nhiệt vì mới hay tin có mấy đứa trẻ chết đuối trên đường phố".

LỚP TRƯỞNG CỦA TÔI

VĂN Trackbacks (0) Thêm góp ý   

 

Nhắc đến nhỏ Hoa, lớp trưởng lớp tôi, cánh con trai đều rợn da gà. Người đâu mà "chằn" hết biết, dù rất nhỏ con. Đã lên lớp 12 rồi mà "đẹt" như học sinh lớp 6. được cái là Hoa học giỏi, cộng thêm việc ai cũng sợ nên cả lớp bầu vào chức danh lớp trương kiêm cán sự môn anh văn. Từ trước đến nay, ít ai dám đến hỏi, lơ tơ mơ là bị "phang" ngay:

- Hỏi người ta cái giọng như vậy, ai mà trả lời. Bộ ông nội hả?

- Hỏi chi nhiều dữ  vậy? Dễ ợt mà không biết!

Có lần thầy dạy môn sử bận công chuyện nên thầy giao bài cho lớp trưởng chép. Hoa chép bài lên bảng cho cả lớp chép theo. Được nữa bài thì thằng Tuấn bên dưới thúc:

- Chép lẹ lẹ lên đi bạn!

- Bài dài - Hoa nói một cách bực mình - chép mõi tay thấy mồ luôn còn kêu chép nhanh nữa. Nè, bộ tính chép lẹ rồi ra ngoài chơi hả? Tôi cấm đó.

Hoa đột ngột ngưng chép quay xuống nói với một số bạn nam không chép bài:

- Sao tụi bây không chịu chép bài đi? Định chống hả?

Đám con trai riu ríu chép vào, riêng thằng Tuấn rụt đầu le lưõi. Chưa hết, mới tuần rồi thôi, Hoa để quên tập văn ở nhà, nghi hai bạn Tuấn, Thông ở bàn sau lấy. Tuấn, Thông cố thanh minh, nhưng Hoa vẫn đốp chát, nói liên nói xỏ, chửi bới om sòm. Thằng Thịnh "mắt kiếng" - vừa mới chuyển trường về - nói nhỏ với tôi:

- Nhỏ này nữa lớn chắc ế chồng!

Vậy mà lớp trưởng vẫn nghe được, cơn giận đổ lửa từ Tuấn, Thông chuyển sang Thịnh như cơn lốc:

- Đồ con trai nhiều chuyện, không phải chuyện mình cũng xía vô.

Mặc dù Thịnh "mắt kiếng" rất hiền nhưng nếu không có chúng tôi nhỏ Hoa chắc bị đánh.

Vậy đó, ngày nào Hoa cũng tác oai, tác quái cái miệng với bạn bè, ngay cả nữ và luôn dành phần thắng. Ai thấy cũng khó chịu khi tiếp xúc. Cô Tâm dạy văn, cô Thuỷ dạy lý nhiều lần phê bình thẳng thắn mà nào Hoa chịu sửa đổi tính tình. Bạn bè không ai dám chơi chung, Hoa gần như bị cô lập. Giờ ra chơi mấy bữa nay tôi thấy cô nàng đứng một mình bên cửa sổ, trông ra khu vườn sinh vật của trường với vẻ mặt hơi buồn. Tôi nghĩ: phải chăng Hoa bắt đầu hối hận? Cũng có thể lắm!

lt

Giờ ra chơi hôm nay, nhóm chúng tôi gồm: Lan, Tuấn, Thông, Thịnh, Hồng Loan và tôi ngồi lại bình luận những món ăn mà hôm chủ nhật cả nhóm thực hiện tại nhà Thông. Với cái giọng hài hứơc của thằng Tuấn, cả bọn nghiêng cười ngã làm Thịnh rớt luôn cả mắt kiếng. Hoa lẳng lặng đến ngồi phía sau nghe ké và cũng cười theo. Khi chúng tôi phát hiện, Hoa liền hỏi:

- Các bạn tổ chức đi sau không rủ tôi?

Thằng Thông lên tiếng:

- Nói ra bạn hứa đừng cự, đừng la tôi mới dám nói.

Hoa gật đầu:

- Rồi tôi hứa đó, bạn nói đi

- Nói thiệt, thấy bạn dữ quá nên không ai dám rủ bạn theo sợ...

- Bạn nói sao... - Hoa lớn tiếng

Cả đám nhao lên:

- Lớp trưởng hứa là không la mà !

- Ờ, ờ...

Tôi thấy thế liền lên tiếng:

- Tôi thấy bạn học giỏi, lại có uy tín với lớp, nhiều lần định rủ bạn đi chơi với chúng tôi, e sợ các bạn khách phiền nên thôi. Chúng ta đều là những học sinh ở lớp cuối cấp, không còn bao lâu nữa sẽ chia tay. Tôi được biết một số bạn của lớp mình sẽ thi vào nhiều trường khác nhau. Bạn Thịnh thi vào trường đại học Y dược, bạn Tuấn đang lựa chọn giữa trường sư phạm và đại học khoa học xã hội nhân văn. Một số bạn lại chọn vào các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Vì vậy, tôi chỉ mong chúng mình luôn có ấn tượng tốt với nhau khi đã ra trường.

Lan sục sùi:

- Còn mình dù đậu hay rớt tốt nghiệp cũng phải nghỉ học để đi may công nghiệp phụ giúp thêm gia đình, chứ thấy ba mình lớn tuổi mà phải đi làm mướn...

Cả nhóm im lặng nhìn nhau. Còn Hoa cố nén xúc động ngoảnh mặt ra cửa sổ. Tôi hỏi ngay:

- Mình nói thế không biết có phật ý Hoa điều gì?

Hoa quay lại với đôi mắt đỏ hoe làm chúng tôi sửng sốt, giọng nói như dịu dàng hơn:

- Không! Không! Mình không giận các bạn đâu. Tại vì mình quá lo với công việc và bản tính hơi nóng nảy nên để các bạn phiền lòng. Mính hứa từ nay nói năng tử tế, nhỏ nhẹ hơn.

Cả nhóm đồng thanh:

- Hoan hô lớp trưởng!

Hoa gạt nước mắt nở một nụ cười duyên dáng. Bọn con trai chúng tôi xì xào với nhau: "Lớp trưởng cũng có duyên đấy chứ!".

Design by JuliettaRose Studio. Powered by Vnweblogs